quang cao

Hỏi đáp về dị tật lỗ đái thấp (phần 1)

Thứ bảy - 22/04/2017 05:54
Lỗ đái thấp (LĐT) hay còn gọi là lỗ tiểu lệch thấp là một dị tật bẩm sinh hệ sinh dục tiết niệu rất phổ biến ở trẻ trai. Rất nhiều thông tin được các gia đình quan tâm sẽ được tổng hợp và cập nhật tại đây.

Thông tin được dịch chủ yếu từ trang web www.hypospadias-surgery.com do GS. Ahmed T. EI Hadidi biên soạn. Có thay đổi và biên tập cho phù hợp với đặc điểm Việt Nam.
(Translate into Vietnamese from website www.hypospadias-surgery.com of Prof. Ahmed T. EI Hadidi. Some edited and modified information have been made for fitting with Vietnamese characterizes.)
Một số từ viết tắt và thuật ngữ:
LĐT: lỗ đái thấp
DV: dương vật
BN: bệnh nhân
Lỗ đái thấp thể xa: vị trí lỗ đái ở một nửa phía ngoài của thân dương vật
Lỗ đái thấp thể gần: vị trí lỗ đái ở một nửa phía trong của thân dương vật (trong hay ngoài lấy mốc từ phía bìu)
BQĐ: bao quy đầu
Tạo hình niệu đạo: việc đưa lỗ đái lên đỉnh quy đầu bằng cách tạo một ống niệu đạo mới, nối với lỗ đái ban đầu.

1. Liệu có thể chẩn đoán dị tật LĐT từ trước khi sinh được không. Tôi sợ con tôi bị dị tật sẽ rất vất vả cho cháu và cho gia đình, liệu có cần phá thai không?
Thông thường không thể chẩn đoán được bệnh LĐT qua siêu âm chẩn đoán trước sinh hat bất cứ biện pháp nào khác, mà chỉ có thể chẩn đoán chính xác sau khi trẻ sinh ra đời. Đôi khi có thể nhưng chỉ là trường hợp thiểu số. Một số trường hợp LĐT thể nặng, siêu âm chẩn đoán trước sinh nghi ngờ là trẻ nữ nhưng sinh ra lại phát hiện ra có tinh hoàn.
Hoàn toàn KHÔNG CÓ CHỈ ĐỊNH nạo phá thai vì nguyên nhân trẻ mắc dị tật LĐT

2. Cháu đầu của tôi bị LĐT, có khả năng cháu thứ 2 lại bị không?
Nguyên nhân chính xác gây ra dị tật LĐT vẫn chưa được xác định, nhưng chắc chắn đó không phải nguyên nhân từ bố mẹ. Người ta chưa kết luận được là bệnh lỗ đái thấp có phải là bệnh di truyền hay không. Việc trong gia đình có 1 bé bị LĐT không làm tăng nguy cơ bị ở trẻ thứ hai. Tuy nhiên, có một số gia đình có khuynh hướng mắc bệnh cao hơn gia đình khác, ví dụ, gia đình có người bố, người chú hoặc ông nội mắc bệnh LĐT thì có khả năng người con dễ mắc bệnh hơn.

3. Tôi chưa từng nghe về bệnh này trước đây, nó có phổ biến không?
Tỉ lệ mắc bệnh có một chút khác nhau theo địa lí và theo chủng tộc. Một vài báo cáo đưa ra tỉ lệ mắc bệnh là 1/125 trẻ nam. Ở Mỹ, người da trắng có tỉ lệ mắc bệnh cao hơn, và tỉ lệ này tăng lên ở những năm 1980 so với năm 1970.
Thông thường, các gia đình có trẻ mắc bệnh thường đưa con đi điều trị một cách âm thầm mà không muốn nhắc đến chuyện này, chính vì thế không có nhiều người biết về tình trạng bệnh lý này.

4. Khi nào thì tôi cần cho cháu đến bác sĩ khám?
Trong vòng 1 năm đầu. Bởi vì thời điểm tốt nhất để phẫu thuật là từ 18 – 24 tháng. Gia đình nên tham khảo ý kiến của bác sĩ (Bác sĩ chuyên khoa Ngoại tiết niệu Nhi) trong vòng 1 năm đầu, sau đó cho cháu đến khám khi cháu được 1 tuổi để bác sĩ thăm khám và đánh giá trực tiếp. Nếu cần thiết có thể cháu sẽ phải dùng 1 số loại thuốc để tăng kích thước dương vật, chuẩn bị cho ca mổ khi cháu được 18 – 24 tháng.

5. Tôi cần liên hệ với bác sĩ chuyên khoa nào? (Bác sĩ Nhi khoa, Bác sĩ Ngoại Nhi hay bác sĩ Phẫu thuật tạo hình)
Chuyên khoa của bác sĩ không phải điều quan trọng nhất. Quan trọng nhất là bác sĩ đó phải có kinh nghiệm và phải có số ca mổ điều trị lỗ đái thấp nhất định.
Một câu hỏi mà các gia đình có thể đặt ra cho bác sĩ trước khi họ quyết định phẫu thuật đó là bác sĩ đó đã thực hiện bao nhiêu ca mổ LĐT, kết quả và tỉ lệ biến chứng như thế nào?
Một số nghiên cứu khoa học đã đưa ra kết luận, đó là phẫu thuật điều trị LĐT chỉ nên được thực hiện tại các cơ sở đã thực hiện từ 50 ca /năm trở lên, tức là ít nhất 1 tuần phải có 1 ca mổ LĐT.

6. Tôi có thể xác định tình trạng bệnh của con tôi là nhẹ hay nặng như thế nào?
Một số yếu tố được dùng để phân loại dị tật LĐT. Phổ biến nhất là phân loại theo vị trí đổ ra của lỗ đái. Thông thường lỗ đái càng gần đỉnh quy đầu thì tiên lượng sẽ nhẹ hơn lỗ đái ở xa, tỉ lệ biến chứng sau mổ cũng ít hơn.
Phân loại LĐT
Phân loại lỗ đái thấp theo vị trí lỗ đái
Trong thực hành, vị trí thực sự của lỗ đái, độ cong của dương vật và phương pháp phẫu thuật phù hợp chỉ có thể được đánh giá chính xác trên phòng mổ khi bé đã được gây mê nằm yên.
Lỗ đái thấp thể quy đầu và thể xa (gần quy đầu) chiếm 85% trong tổng số bệnh nhân lỗ đái thấp, tỉ lệ của thể gần (thân dương vật) là 10% và thể bìu chỉ là 5%.
Độ I: LĐT thể xa (hoặc thể quy đầu)
 
LDT the ranh quy dau 1LDT the ranh quy dau 2LDT the ranh quy dau 3
Đa số các trường hợp LĐT, da bao quy đầu thường mất cân đối, tập trung về phía mặt lưng dương vật. Tuy nhiên trong 1 số trường hợp hiếm, bao quy đầu vẫn gần như bình thường, LĐT lại ở gần đỉnh quy đầu nên gia đình không phát hiện sớm. Thường phát hiện khi các bác sĩ làm các thủ thuật liên quan đến bao quy đầu như cắt bao quy đầu, nong, vệ sinh bao quy đầu. Một dấu hiệu để nhận biết sớm trường hợp này là đường giữa thân dương vật bị xoay, không trùng với đường giữa bìu.
LDT con bao quy dau 1   LDT con bao quy dau 2LDT con bao quy dau 3
 
Độ II: Lỗ đái thấp thể xa.
 
LDT the xa 1LDT the xa 2LDT the xa 3
Đây là thể thường gặp nhất của dị tật LĐT, chiếm 75% trong tổng số các trường hợp. Nếu chia thân dương vật làm 2 phần thì lỗ đái ở thể này nằm trong nửa xa hơn của thân dương vật. Thể xa có thể đi kèm với cong dương vật (chordee), tuy nhiên mức độ cong thường nhẹ và có thể tự cải thiện sau phẫu thuật.
 
Độ IIIa: LĐT thể gần, dương vật cong vừa
 
ldt the gan duong vat cong vua 1ldt the gan duong vat cong vua 2ldt the gan duong vat cong vua 3
Lỗ đái thấp thể gần chiếm 10% tổng số, trong đó một nửa đi kèm với cong DV nặng (Độ IIIb), 1 nửa cong DV mức độ vừa (độ IIIa). Mức độ cong chỉ có thể đánh giá chính xác trong mổ.
 
Độ IIIb: LĐT thể gần, dương vật cong nặng
LDT the gan DV cong nang 1LDT the gan DV cong nang 2LDT the gan DV cong nang 3
Chiếm 5% trong tổng số các BN LĐT, trong tình trạng này, điều cốt yếu là PTV phải giải quyết tình trạng cong trước khi tạo hình niệu đạo.

Độ IV: Lỗ đái thấp thể bìu
  ldt the biu 1ldt the biu 2
Là thể nặng nhất của LĐT, chiếm khoảng 5% số trường hợp. Có thể đi kèm với ấn tinh hoàn 1 bên hoặc 2 bên và nằm trong số các rối loạn phát triển sinh dục (Disorder of Sexual Development), vì thể nhiều khi các bác sĩ sẽ yêu cầu BN làm thêm xét nghiệm nhiễm sắc thể. Có thể sẽ phải cần điều trị hormon trước mổ để tăng kích thước dương vật trong thể này.

7. Có cần thiết phải phẫu thuật không
Trong trường hợp LĐT thể quy đầu (độ I), xét về mặt chức năng, có thể không cần phải phẫu thuật điểu trị. Với LĐT thể này, việc bài tiết nước tiểu và chức năng sinh dục không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, nhiều trẻ bị ảnh hưởng về mặt tâm lý khi dương vật của mình có chút khác biệt so với các bạn khác. Nhiều bệnh nhân nam cảm không dám tiếp xúc với người khác giới bởi vì họ mặc cảm vì sự khác biệt này.
Thực tế, phẫu thuật điều trị LĐT thể quy đầu tỉ lệ thành công – DV gần như bình thường đạt tới 99% mà chỉ có 1% biến chứng. Vì thế, bác sĩ sẽ giúp các gia đình tìm ra phương án tốt nhất đối với từng trường hợp cụ thể.
Rõ ràng với các thể LĐT nặng hơn, việc phẫu thuật là hết sức cần thiết để đem lại hình dạng gần như bình thường và đảm bảo chức năng tình dục. Thêm vào đó, lỗ đái ở vị trí thấp thường hẹp và nếu không được điều trị có thể gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu.

8. Dương vật của con tôi có thể về được như bình thường sau mổ không?
Lỗ đái thấp là một dị tật phức tạp của hệ sinh dục, vì vậy việc phẫu thuật chỉ có thể đem lại kết quả dương vật trở về gần như bình thường nhất có thể, không bao giờ có thể làm cho dương vật trở lại như những trẻ không mắc dị tật. 
Tuy nhiên dương vật vẫn có thể phát triển gần như bình thường, đảm bảo đủ chức năng bài tiết và sinh dục. Ở những thể nặng, tỉ lệ biến chứng sẽ cao hơn, và vấn đề sẽ phức tạp hơn ở những thể nhẹ.
Việc điều trị với các phẫu thuật viên ở các trung tâm lớn có kinh nghiệm rất quan trọng, điều kiện trang thiết bị phẫu thuật, kim chỉ, băng gạc, thuốc kháng sinh, điều kiện vệ sinh chăm sóc tốt là các yếu tố quyết định đến thành công của ca phẫu thuật.

9. Việc phẫu thuật có làm tổn thương đến sự cương, sự xuất tinh hoặc các chức năng tình dục khác không?
Về nguyên tắc, tất cả các dây thần kinh chi phối hoạt động cương, xuất tinh của dương vật nằm ở mặt lưng của dương vật, trong khi việc phẫu thuật tập trung chủ yếu vào việc tạo hình niệu đạo ở mặt bụng (mặt dưới) của dương vật. Vì vậy, trong đa số các trường hợp, phẫu thuật không gây ảnh hưởng lên chức năng cương của DV và việc xuất tinh, trừ một số ít trường hợp, bác sĩ cần phải chỉnh cong dương vật ở mặt lưng thì có thể gây tổn thương đến các chức năng này nhưng tỉ lệ rất nhỏ.

10. Kích thước của dương vật sau mổ có bình thường không?
Đây là câu hỏi thường gặp nhất. Theo một số nghiên cứu, kích thước DV có thể phát triển bình thường theo tuổi và gần như của những đứa trẻ bình thường, ngoại trừ những thể nặng chỉ chiếm khoảng 10% tổng số. 

Dịch bởi ThS. BS. Trần Đức Tâm

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Góp ý với chúng tôi
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập5
  • Hôm nay12,063
  • Tháng hiện tại191,313
  • Tổng lượt truy cập6,436,102
Facebook
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây