quang cao

Giãn thận thời kì bào thai và trẻ sơ sinh

Thứ tư - 19/04/2017 12:24
Thận ứ nước hay giãn thận của trẻ sơ sinh có thể được chẩn đoán rất sớm từ 3 tháng đầu thai kì. Đây là trường hợp thường gặp, có thể lên đến 1% ở thai nam và 0,5% ở thai nữ và cần phải được theo dõi định kì.
Giãn thận bẩm sinh
Giãn thận bẩm sinh
Thận ứ nước hay giãn thận của thai nhi có thể được chẩn đoán rất sớm từ 3 tháng đầu thai kì. Tình trạng này rất thường gặp ở các trung tâm siêu âm chẩn đoán trước sinh, có thể lên đến 1% ở thai nam và 0,5% ở thai nữ trong số tất cả các thai nhi được chẩn đoán và thường không đi kèm với các bất thường khác của thai nhi.
Thông thường không cần can thiệp gì trong thời kì bào thai. Quan trọng nhất là thai nhi cần được theo dõi chặt chẽ bằng siêu âm trong suốt thai kì và trong những năm tháng đầu đời của em bé. Tình trạng này cũng không liên quan đến các vấn đề về sản khoa như như thời gian dự kiến sinh, đẻ thường hay đẻ mổ và các bất thường sản khoa nếu có.

Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân gây giãn thận từ thời kì bào thai, nhưng đa số là không có nguyên cụ thể (giãn thận sinh lý), không phải là tình trạng bệnh lý, không gây hậu quả gì và không cần biện pháp điều trị nào.
  1. Giãn thận sinh lý: tình trạng giãn thận chỉ là thoáng qua tại thời điểm siêu âm. Đa số các trường hợp giãn thận phát hiện từ thời kì bào thai là thuộc trường hợp này. Tình trạng giãn sẽ không tăng thêm hoặc dẫn cải thiện qua thời gian, có thể đến một vài năm sau khi trẻ sinh ra.
  2. Giãn thận do tắc nghẽn niệu quản
Thông thường có 2 vị trí có thể tắc nghẽn trên đường tiết niệu:
  • Vị trí thường gặp nhất là ở vị trí nối giữa bể thận và niệu quản, tỉ lệ gặp là 1/1000 trẻ.
  • Vị trí niệu quản đổ vào bàng quang, tỉ lệ gặp khoảng 1/2500 trẻ.
  1. Tắc nghẽn niệu đạo
Hay còn gọi là van niệu đạo sau. Tắc nghẽn niệu đạo lâu ngày sẽ làm bàng quang căng, không co bóp đẩy nước tiểu ra ngoài được, dẫn dần ảnh hưởng đến niệu quản và bể thận.
  1. Thận – niệu quản đôi
Bình thường mỗi người chỉ có 1 thận – 1 niệu quản ở 1 bên cơ thể, tuy nhiên, có khoảng 1% trong số tất cả mọi người có nhiều hơn 1 niệu quản xuất phát từ thận, trường hợp này gọi là thận – niệu quản đôi. Hầu hết đều không có triệu chứng gì và không ảnh hưởng gì đến sức khỏe. Tuy nhiên tắc nghẽn của niệu quản và thận phụ (thông thường ở phía trên thận chính) có thẻ gặp ở 1/5000 trẻ. Siêu âm chẩn đoán trước sinh có thể thấy hình ảnh giãn 1 phần thận. Niệu quản phụ này thường bị tắc ở vị trí đổ lạc chỗ vào bàng quang, gây nên hình ảnh giãn niệu quản ngoằn ngoèo và túi phình chèn vào trong lòng bàng quang.
  1. Thận đa nang
Thận đa nang có nguyên nhân do sự tắc nghẽn hoàn toàn của niệu quản từ thời kì bào thai, thận đa nang không thể bài tiết nước tiểu và không phát triển bình thường. Thông thường chỉ gặp ở 1 bên thận, và thận bên kia thường phát triển mạnh để bù trừ nên chức nặng thận tổng thể vẫn hoàn toàn bình thường.
  1. Trào ngược bàng quang – niệu quản
Gặp ở 5 – 25% số trường hợp phát hiện giãn thận trước sinh, trào ngược bàng quang niệu quản là tình trạng nước tiểu có thể đi từ bàng quang lên niệu quản do mất cơ chế chống trào ngược của vị trí đổ của niệu quản vào bàng quang. Sự trào ngược kéo dài có thể làm giãn niệu quản, bể thận và làm cho trẻ có nguy cơ cao bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu, cần phải dùng kháng sinh dự phòng trong vòng 1 năm đầu đời.
 
Thận ứ nước
Một số hình ảnh mô tả tắc nghẽn đường tiết niệu

Theo dõi trong thời kì bào thai
Trong đa số các trường hợp, chỉ cần theo dõi bằng siêu âm trong suốt thời kì thai nhi. Quá trình mang thai sẽ không bị ảnh hưởng gì bởi tình trạng này, cũng như thời gian dự kiến sinh, phương pháp sinh (đẻ thường hay đẻ mổ). Tuy nhiên, các bà mẹ cần ghi nhớ tình trạng của con để thông báo cho bác sĩ siêu âm chẩn đoán trước sinh mỗi khi đi kiểm tra. Và tốt nhất, nên sinh ở các cơ sở y tế lớn, có điều kiện chấn đoán và hội chẩn với các bác sĩ ngoại nhi ngay từ khi bé mới sinh ra đời.
Theo dõi sau sinh
Sau khi bé được sinh ra, tại các bệnh viện Sản lớn, luôn luôn sẽ có các bác sĩ chuyên khoa sơ sinh sẽ thăm khám cho bé, mục đích là để phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh nếu có (ẩn tinh hoàn, lỗ đái thấp, thoát vị bẹn, …). Nếu cần, các bác sĩ sơ sinh sẽ mời các bác sĩ ngoại nhi đến hội chẩn hoặc chuyển bệnh nhân sang cơ sở ngoại khoa nếu đủ điều kiện rời viện Sản.
Bé cần được siêu âm kiểm tra dị tật bẩm sinh hệ tiết niệu trong vòng 1 tuần đầu sau sinh, tốt nhất là vào ngày thứ 3 để đánh giá mức độ giãn thận và tắc nghẽn đường tiết niệu. Không nên tiến hành siêu âm quá sớm, bởi vì trẻ sơ sinh trong những ngày đầu sẽ diễn ra sự mất nước sinh lý, bể thận có thể tự nhỏ đi nên không phản ánh đúng tình trạng bệnh lý nếu có. Dựa trên kết quả siêu âm, bác sĩ chuyên khoa Ngoại nhi sẽ đánh giá và đưa ra phương pháp điểu trị thích hợp.
Phân độ giãn thận
Thận ứ nước hay giãn thận được phân loại theo mức độ từ 0 đến IV, độ 0 nghĩa là tình trạng bình thường và độ IV là nặng nhất. Phân loại này nhằm mục đích hỗ trợ việc đưa ra quyết định điều trị và thời gian theo dõi. Trong đa số các thường hợp, giãn thận độ I, II chỉ cần theo dõi bằng siêu âm, giãn thận độ III, IV cần làm thêm các xét nghiệm khác và theo dõi chặt chẽ hơn, đặc biệt đối với giãn thận độ IV, khả năng cần can thiệp bằng phẫu thuật rất cao.
Phân độ giãn thận
Phân độ giãn thận trên siêu âm

Các phương pháp chẩn đoán khác
Ngoài siêu âm, một số phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác có thể được chỉ định để góp phần chẩn đoán:
  • Chụp bàng quang ngược dòng (voiding cystourethrogram - VCUG): phát hiện trào ngược bàng quang – niệu quản.
  • Chụp UIV hoặc xạ hình thận: được chỉ định trong những trường hợp ứ nước nặng trên siêu âm.
  • Chụp cắt lớp vi tính: áp dụng cho những trường hợp nghi ngờ có nhiều dị tật bẩm sinh hệ tiết niệu và trong ổ bụng.
Điều trị
Như đã nói ở trên, việc điều trị tình trạng giãn thận phát hiện từ thời kì bào thai tập trung chủ yếu vào siêu âm theo dõi và đa số tự cải thiện mà không cần điều trị. Ngoài ra các yếu tố khác cũng cần được ghi nhận: xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu, tình trạng nhiễm khuẩn đường tiết niệu, triệu chứng: sốt, đái đục, đau bụng,…
Trẻ cần được theo dõi ở các cơ sở chuyên khoa ngoại nhi như bệnh viện Nhi trung ương. Thời gian theo dõi tùy thuộc vào kết quả siêu âm và tình trạng bệnh nhân. Thông thường, chúng tôi theo dõi theo lịch như sau:
  • 12 tháng đầu: Khám kiểm tra 3 tháng/lần
  • 24 tháng sau: Khám kiểm tra 6 tháng/lần
  • Trên 3 tuổi: 1 năm/ lần
Một số trường hợp đặc biệt
  • Trẻ bị trào ngược bàng quang – niệu quản có thể cần phải điều trị kháng sinh dự phòng để đề phòng bệnh lý nhiễm khuẩn tiết niệu, thời gian điều trị phụ thuộc vào tình trạng trào ngược và được quyết định bởi bác sĩ.
  • Có thể trẻ sẽ cần phải phẫu thuật nếu có dấu hiệu rõ ràng của sự tắc nghẽn đường tiết niệu, siêu ẩm kiểm tra phát hiện tình trạng giãn thận nặng lên, kết hợp với các triệu chứng của nhiễm khuẩn tiết niệu tái đi tái lại nhiều lần.
  • Với trẻ bị thận đa nang, thận bên kia đa số bình thường và đảm bảo đủ chức năng. Trừ khi thận này gây triệu chứng, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ (ví dụ như quá to gây chèn ép vào phổi hoặc đường tiêu hóa, hoặc nghi ngờ phát triển thành khối u,…), không thì có thể điều trị bảo tồn, không cần can thiệp phẫu thuật khi trẻ còn quá nhỏ. Bác sĩ sẽ theo dõi tình trạng thận trong vòng 6 tháng đến 1 năm và quyết định cắt bỏ khi thích hợp.
Tiên lượng
Tình trạng giãn thận là một bệnh lý lành tính có tiên lượng rất tốt, kể cả khi phải can thiệp phẫu thuật.

Điều quan trọng đối với các bà mẹ khi mang thai gặp phải trường hợp thai nhi bị giãn thận đó là không nên quá lo lắng. Đây là một bệnh có thể chữa khỏi hoàn toàn và không để lại di chứng.
 
 
 

Tác giả bài viết: ThS. BS. Trần Đức Tâm

Tổng số điểm của bài viết là: 24 trong 6 đánh giá

Xếp hạng: 4 - 6 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Góp ý với chúng tôi
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập153
  • Hôm nay12,453
  • Tháng hiện tại191,703
  • Tổng lượt truy cập6,436,492
Facebook
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây